Những loài hoa quen thuộc dùng làm thuốc


Nhiều loài hoa đẹp, được dùng làm quà tặng và bị coi là thứ "thiếu thực dụng". Tuy nhiên, bạn có biết, hoa hồng, hoa sen cạn, bồ công anh có tác dụng trị bệnh?

 

Để phát huy khả năng chữa bệnh, hoa có thể được chế biến thành trà, làm thuốc đắp lên da hoặc sử dụng làm liệu pháp hương thơm để trị một số căn bệnh.

 

Hoa còn có khả năng gây ảnh hưởng đến tâm trạng theo những cách sau:

 

- Mang lại cảm giác vui vẻ, hạnh phúc ngay lập tức.

 

- Mang lại những ảnh hưởng tích cực cho tâm trạng trong một thời gian dài.

 

- Tạo ra những kết nối thân thiết.

 

Dưới đây là một số loại hoa phổ biến thường được sử dụng để làm thuốc chữa bệnh cho con người.

 

1. Hoa hồng

 

Hồng là một trong những loại hoa được dùng để trị bệnh phổ biến nhất. Chúng được chế biến thành những loại nước uống phục vụ cho việc chữa trị các vấn đề về gan và đường ruột, đặc biệt là những trường hợp bị kích ứng ruột, túi mật và bệnh về gan. Hoa hồng cũng có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh có liên quan đến đường mật. Mùi hương của loại hoa này mang lại cảm giác hạnh phúc nên sẽ giúp tinh thần phấn chấn hơn.

 

2. Vạn thọ

 

Vạn thọ thuộc họ hoa cúc. Cánh hoa vạn thọ có thể chế biến thành thuốc rửa mắt rất tốt. Y học cổ truyền và hiện đại đều sử dụng cúc vạn thọ làm thuốc mỡ để bôi vào những chỗ da bị xước hoặc bị cắt. Loại hoa này có công dụng khử trùng và phòng chống nấm.

 

3. Bồ công anh

 

Loại thuốc nước được làm từ hoa bồ công anh có công dụng trị thiếu máu, bệnh vàng da và căng thẳng thần kinh. Chúng còn có tác dụng lọc máu.

 

4. Cúc La Mã

 

Cúc La Mã có khả năng loại bỏ hơi trong ruột, trị căng thẳng, làm lành những vết bỏng trên da và trừ chứng ngứa da. Chúng còn giúp tăng cường hệ miễn dịch. Những lợi ích cho sức khỏe từ cúc La Mã bao gồm cả việc giảm bớt những vết lở miệng, bệnh đau bao tử và căng cơ.

 

5. Thu hải đường

 

Đun sôi loại hoa này trong nước cùng với một chút quế sẽ tạo thành dung dịch có ích trong việc loại thải chất độc trong máu và làm sạch gan. Hỗn hợp đặc sệt được làm từ hoa thu hải đường có thể dùng để thoa lên những chỗ da bị bỏng, sưng tấy và viêm đau.

 

6. Hoa cúc

 

Nước uống làm từ loại hoa này có công dụng chữa cảm lạnh và sốt. Thoa nước ép làm từ hoa cúc lên mắt sẽ giúp mắt bớt sưng đỏ do không khí ô nhiễm. Nước hoa cúc còn làm giảm bớt những cơn đau đầu và làm hạ huyết áp.

 

7. Sen cạn

 

Tương tự như hoa cúc, loại nước được pha chế từ sen cạn có thể chữa được chứng cảm lạnh và cúm. Đây còn là loại hoa có tính kháng vi rút và vi khuẩn, giúp kiểm soát bệnh nhiễm trùng đường tiểu và viêm đường hô hấp.

 

8. Kim ngân

 

Cho một vài giọt tinh chất chiết xuất từ hoa kim ngân hòa chung với nước và súc miệng nhằm giảm bớt những cơn đau họng. Loại hoa này còn được xem là giải pháp chữa trị hiệu quả đối với hầu hết những tình trạng viêm nhiễm vì chúng có khả năng kháng vi rút và vi khuẩn. Lá và thân của hoa kim ngân còn được dùng để chữa bệnh viêm khớp.

 

9. Hoa mận

 

Dân gian vẫn sử dụng hoa mận làm thuốc trị bệnh ho và tiêu chảy. Đun nước hoa mận để xông hơi cho mặt cũng là một cách chữa bệnh nhiễm trùng ở phổi khá tốt.

 

10. Hoa hướng dương

 

Loại nước được pha từ hoa hướng dương có tác dụng làm giảm các cơn đau bụng do hội chứng kinh nguyệt gây ra, giảm bớt các khối u, vết loét trên cơ thể. Súc miệng bằng nước làm từ hoa hướng dương cũng giúp làm dịu cổ họng đang bị đau hoặc bị sưng do viêm a-mi-đan. Đây còn được xem là một cách trị những vết thương do bệnh ung thư gây ra.

  • "*Lưu ý: Kết quả có thể da dạng tùy theo thể trạng và cơ chế tập luyện của mỗi người."

  • “*Lưu ý: Hiệu quả/Công dụng có thể khác nhau tùy theo thể trạng/cơ địa mỗi người. Do đó, các bạn hãy liên hệ trực tiếp để được tư vấn rõ hơn"


Thuốc nam Gia truyền Dân tộc Tày CHẤN MỘC VIÊN

Trụ sở chính: Khu 7, Ngọc Lâu, Hà Lộc, Thị xã Phú thọ, Tỉnh Phú Thọ

Ma Đình Tú: 098 679 69 90

Email: info@thuoc-nam.com


Chuyên đặc trị:

- Thoái hóa xương khớp, đau vai gáy, đau dây thần kinh, vôi gai đốt sống, bệnh gút, thoát vị đĩa đệm.

- Tiểu đường, huyết áp

- Xơ gan cổ trướng, viêm gan, gan nhiễm mỡ, máu nhiễm mỡ.

- Viêm xoang.

- Trĩ nội, trĩ ngoại.

- Yếu sinh lý, vô sinh.

- Sỏi thận, sỏi gan, sỏi mật, sỏi bang quang, tiết niệu...