HẠ KHÔ THẢO

Công dụng: Mắt đỏ sưng đau, nhức đầu, chóng mặt, bươú cổ, tràng nhạc, tuyến vú tăng sinh, nhọt vú sưng đau, huyết áp cao.


Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 8 – 16g dạng thuốc sắc, dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.


Bài thuốc:


• tràng nhạc, lở loét: Hạ khô thảo 200g sắc đặc, uống trước bữa ăn 2 giờ. Hoặc dùng Hạ khô thảo 8g, Cam thảo 2g, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày.

• Thông tiểu tiện: Hạ khô thảo 8g, Hương phụ 2g, Cam thảo 1g, nước 300ml, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày.


• cao huyết áp: Hạ khô thảo rửa sạch, phơi khô, tán nhỏ 40g, sắc lấy nước, chia 2 lần uống trong ngày, sau hai bữa cơm. Uống liên tục 10 ngày, nghỉ 7 ngày, rồi uống tiếp tục như thế từ 2-4 đợt tuỳ bệnh nặng nhẹ. Hoặc dùng Hạ khô thảo, Bồ công anh, Hạt muồng ngủ sao, mỗi vị 20g; Hoa cúc, lá Mã đề, mỗi vị 12g, sắc uống.

 

Loại cây thảo, sống nhiều năm, cao 20 - 30cm. Thân vuông, có màu hơi tía đỏ. Lá đơn, mọc đối, cuống dài.


HẠ KHÔ THẢO - Tên tiếng anh: Brunella vulgans Lin.


 Tên khác: Tịch cú, Nãi đông (Bản Kinh), Yến diện (Biệt Lục), Thiết sắc thảo (Bản Thảo Cương Mục), Huyết kiến sầu, Trư thỉ thảo, Vân yến mật, Oanh hỉ mật, Cân cốt thảo, Tứ ngưu đấu thảo (Hòa Hán Dược Khảo), Bổng trụ đầu hoa (Trung Quốc Dược Dụng Thực Vật Chí), Bổng chuỳ thảo (Trung Dược Chí).


Tên gọi: Ngày xưa, người ta cho rằng cây này khô héo vào sau Hạ chí (mùa hè), vì vậy gọi là Hạ khô thảo, nhưng trên thực tế thì ở Việt Nam mùa hè cây vẫn tươi tốt.


Tên khoa học: Brunella vulgans Lin. (=  Prunella asiatica Nakai).


Họ khoa học:  Hoa Môi (Lamiacae).


Mô Tả : Loại cây thảo, sống nhiều năm, cao 20 - 30cm. Thân vuông, có màu hơi tía đỏ. Lá đơn, mọc đối, cuống dài.  Lá dài 2 - 5cm, rôïng 0,7 – 1cm, hình trứng hay hình mác dài, mép nguyên hoặc hơi có răng cưa Thân và lá đều có lông nhung. Cụm hoa xim  co mọc ở đầu cành trông giống như bông, gồm nhiễuvòng, mỗi vòng có 5-6 hoa. Hoa lưỡng tính, không đều, lá đài liền. Tràng hình môi, mầu tím xanh nhạt. Nhị 2 dài, 2 ngắn. Bầu có 4 ô, vòi nhỏ dài. Quả nhỏ, có 4 quả bế, đựng trong đài tồn tại. Mùa hạ nở hoa, cuối hè sang thu thì cây bắt đầu khô héo.


Địa lý :
Cây mọc hoang ở Lào Cai, Hà Giang, Tam Đảo. Cũng còn được trồng ở Tnmg du.


Thu hái, Sơ chế: Trước đây phải nhập của Trung Quốc, hiện nay đã phát hiện và thu hái ở Sa Pa, Tam Đảo, Hà Tuyên vào tháng 4 – 6. Khi quả đã chín thì hái cành mang hoa và quả phơi hay sấy khô. Có khi người ta còn dùng cả phần ở trên mặt đất, thu về, phơi hay sấy khô dùng.


Phần dùng làm thuốc: Hoa tự, quả (Flos Brunellae cum Fructu).


Mô tả dược liệu: cành mang lá và hoa khô. Cành vuông, màu nâu nhạt, có nhiều rãnh dọc. Lá mọc đối, nhăn nheo, hình bầu dục hay trái xoan. Toàn cây có những lông ngắn. Vị đắng, hơi the. Thông thường lúc dùng làm thuốc chỉ lấy toàn hoa mà không lấy cuống và cành. Hoa tự mọc ở đầu cành, màu nâu tía, khô, thơm, không sâu, mốc, mục nát là tốt. Nhưng theo quy cách mới hiện nay thì lại dùng cành có hoa, lá từ đầu hoa trở xuống dài khôâng quá 15cm, bỏ  gốc rễ, thứ bị mất bông hoa thì không dùng.


Bào chế: Thu hái về, phơi trong râm cho khô, cắt ngắn, dùng vào thuốc, không chế biến gì.


Bảo quản: Để nơi khô ráo, dễ hút ẩm, mốc biến thành mầu đen. Có thể phơi nhưng không nên quá nắng, dễ mất mùi thơm.


Thành phần hóa học:
+ Cành mang hoa và quả chứa chừng 3,5% muối vô cơ tan trong nước. Trong số muối vô cơ này , 68% là Kali Clorua. Ngoài ra, còn thấy một chất có tính chất Alcaloid. Hoạt chất khác chưa rõ (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).

+ Ursolic acid  (Lee K H và cộng sự, Planta Med 1988, 54 (4) : 308).


+ Oleanolic acid, Daucosterol, b-Amyrin, Tetracosanic acid, Hexacosanic acid, Octacosanic acid, Triacintanic acid  (Hà Vân Khánh, Bắc Kinh Y Khoa Đại Học Học Báo 1985, 17 (4) : 297).


+ Myristic acid, Oleic acid, Linoleic acid, Palmitic acid, Stearic acid, Lauric acid (Jain M và cộng sự, J Inst Chem (India) 1984, 56 (3) : 123 (C A 1984, 101 : 147839t).


Tác dụng dược lý :


+ Tác dụng lợi tiểu: Cửu Bảo, Điền Tình Quang và Đảo Thanh Cát lấy các muối vô cơ trong nước sắc Hạ khô thảo, chế thành thuốc tiêm, tiêm vào tĩnh mạch thỏ, thấy huyết áp hạ xuống ngay, vận động hô hấp tăng lên, tác dụng lợi tiểu rõ như các muối Kali khác. Suy ra rằng sở dĩ Hạ khô thảo có tác dụng là do lượng muối Kali khá cao (Hoà Hán Dược Dụng Thực Vật 1940).


+ Tác dụng hạ áp: Các chất tan trong nước của Hạ khô thảo có tác dụng hạ áp lâu dài trên bệnh nhân và làm hết các triệu chứng khó chịu của bệnh cao huyết áp (Y Học Liên Xô 1981, 7 : 6).


+ Tác dụng kháng khuẩn:
In vitro, thuốc có tác dụng ức chế loại trực khuẩn lỵ, trực khuẩn mủ xanh, tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn dung huyết (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).


+ Tác dụng chống ung thư: Qua nghiên cứu thực nghiệm trên ung thư cổ tử cung của chuột nhắt, bước đầu nhận xét thấy có tác dụng chống sự tăng trưởng của tế bào ung thư di căn (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).


Tính vị:


+ Vị đắng, cay, tính hàn (Bản Kinh).


+ Vị đắng, hơi cay, tính hơi hàn (Trấn Nam Bản Thảo).


+ Vị hơi đắng, hơi cay, tính phù mà thăng (Bản Thảo Chính).


+ Khả thăng khả giáng, là thuốc của phần huyết (Bản Thảo Hội Ngôn).


+ Vị đắng, cay, tính hàn (Trung Dược Học).


Quy kinh :


. Vào kinh Can (Trấn Nam Bản Thảo).


. Vào kinh túc Quyết âm, Thiếu dương (Bản Thảo Kinh Sơ).


. Vào kinh Phế, Tỳ, Tâm (Bản Thảo Tân Biên).


. Vào kinh Can, Đởm (Trung Dược Học).


Tác dụng :


+ Bổ dưỡng huyết mạch (Đan Khê Tâm Pháp).


+ Khứ Can phong, hành kinh lạc (Trấn Nam Bản Thảo)


+ Thanh Can, minh mục, tán kết, giải độc (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).


+ Thanh hỏa, tán kết, thanh Can, minh mục (Trung Dược Học).


Chủ trị : Trị Can dương vượng lên, đau đầu chóng mặt,  đỏ mắt, lở vùng đầu, lao hạch cổ.


Kiêng kỵ:


+ Kỵ sắt ( Y Học Quảng Bút Ký).


+ Uống lâu ngày sẽ bị lao thương (Ngoại Khoa Toàn Sinh Tập).


+ Âm hư, Vị nhiệt, không có uất kết cầm dùøng, ăn uống kém không dùng (Trung Dược Học).


Liều dùng : 9g - 30g.


Đơn thuốc kinh nghiệm:


+ Trị  băng huyết không cầm: Hạ khô thảo tán bột, mỗi lần uống 1 thìa cà phê với nước cơm (Thánh Huệ Phương).

+ Bổ Can, sáng mắt, mắt đau do Can hư, nước mắt sống hay chảy,  mắt mờ, sợ ánh sáng: Hạ khô thảo 15g, Phụ tử 30g, tán bột, mối lần uống 3g với nước trà (Giản Yếu Tế Chúng Phương).


+ xích bạch đới: khi Hạ khô thảo ra hoa, hái về, phơi trong râm cho khô rồi tán bột, mỗi lần uống 6g với nước cơm, trước bữa ăn (Dư Thị Gia Truyền Phương).


+ váng đầu, chóng mặt sau khi sinh, tâm khí muốn tuyệt: Hạkhô thảo tươi, giã nát, vắt lấy nước, uống môït chén lớn (Dư Thị Gia Truyền Phương).


+ chấn thương do té ngã, bị đánh đập, đâm chém: Hạ khô thảo nhai nát, rịt vào nơi đau (Vệ Sinh Dị Giản Phương).

+  mồ hôi gây nên lang ben: Hạ khô thảo sắc lầy nước cốt rửa hàng ngày (Càn Khôn Sinh Ý).

+ loa lịch, mã đao đã vỡ miệng hay chưa, hoặc lâu ngày thành rò: Hạ khô 180g, sắc với 2 chén nước còn 7 phân, uống nóng cách xa bữa ăn. Người suy nhược nấu thành cao uống, đồng thời bôi vào nơi đau, uống với Thập Toàn Đại Bổ Thang thêm Hương phụ, Bối mẫu, Viễn chí thì rất hay vì đó là những vi thuốc sinh huyết, là thánh dược để trị Loa lịch (Ngoại Khoa Kinh Nghiệm Phương).

+ huyết áp cao: Ngưu tất, Long đởm thảo, Địa long, Hải tảo, Hạ khô thảo, các vị bằng nhau, nấu thành cao, ngày uống  2 lần, mỗi lần 1 muỗng canh. Hoặc chỉ dùng  Hạ khô thảo khô 30g,  sắc uống 2 lần trong ngày, lúc ăn. Liên tục 10 ngày, nghỉ 10 ngày rồi uống tiếp. Dùng 2 - 4 đợt, tùy bệnh nóng nhẹ để uống (Kinh Nghiệm Phương).


+ hoả bốc lên đầu làm nhức đầu, chóng mặt,  mắt sưng đau, đỏ, huyết áp cao:
Hạ khô thảo, Bồ công anh, Thảo quyết minh (sao), mỗi vi 15g, Cúc hoa, Tang diệp, Mè đen, mỗi thứ 9g. Sắc uống (Nghiệm Phương).


+  tràng nhạc, mã đao, anh bệnh, vú sưng, viêm hạch, quai bị: Hạ khô thảo, Huyền sâm. Mỗi thứ 15g,  Xạ can, Nga truật, Hoàng đằng, mỗi thứ 4,5g. Sắc uống. Bên ngoài dùng nhân Phiên mộc miết (hạt gấc) mài với giấm bôi lên (Kinh Nghiệm Phương).


+  lao hạch cồ (chưa phá miệng), sưng tuyến giáp đơn thuần:  Hạ khô thảo 30-60g, sắc uống, hoặc nấu thành  cao uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).


+  loa lịch: Hạ khô thảo 9g, Cam thảo 3g. Sắc uống ngày 1 thang, liên tục 20 - 30 ngày (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).


+  lao hạch, bạch huyết, viêm hạch lâm ba, viêm tuyến vú:  Hạ khô thảo 15g, Huyền sâm, Thổ bối mẫu đều 9g, sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).


+ Can nhiệt, đau nhức trong tròng mắt, nhìn không rõ chảy nước mắt sống, đau dầu hoa mắt do can dương vượng lên:
Hạ khô thảo 60g, Chích cam thảo 15g, Hương phụ tử (sao rượu) 60g. Tất cả tán bôït, mỗi lần uống 9g, ngày 3 lần với nước ( Hạ Khô Thảo Tán - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).


+  viêm kết mạc: Hạ khô thảo, Bồ công anh đều 40g (dùng tươi), Tang diệp, Xa tiền thảo, Dã cúc hoa, mỗi thứ 9g, sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).


+ đau đầu do áp huyết cao: Hạ khô thảo (tươi) 30-60g, sắc uống, hoặc dùng Hạ khô thảo, Hy thiêm thảo, Dã cúc hoa, mỗi thứ 30g. Sắc uống. Tri đau đầu do áp huyết cao.


+  đau đầu, mắt đỏ do áp huyết cao: Hạ khô thảo 15g, Cúc hoa 9g, Mẫu lệ (sống), Thạch quyết minh (sống), đều 24g, Xuyên khung 3g, Mạn kinh tử 12g, sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).


Tham khảo:          


. Hạ khô thảo vị đắng cay, tính hàn không có độc là yếu dược để trị loa lich. Thuốc vào kinh túc Quyết âm, Thiếu dương. Chu Đơn Khê cho rằng nó có tác dụng bổ huyết của Quyết âm Can. Lại có vị cay nên có thể tán được kết, đắng lạnh nên hạ tiết mà trừ nhiệt, cho nên trị tất cả các chứng lạnh nóng, tiêu loa lich, rò, phá trưng, tán anh kết khí, lở da đầu, đều do ở nhiệt, sưng bắp chân do thấp tý, không do thấp nhiệt gây ra, khi nhiệt tiêu tan thì tán, kết, thấp mất, đó là 3 chứng tự nhiên tiêu trừ thì mình ầy cũng được nhẹ nhàng thanh thản vậy (Bản Thảo Kinh Sơ).


. Hạ khô thảo vị đắng, cay, tính hơi lạnh, chỉ vào Quyết âm, tiêu loa lịch, tán kết khí, giảm đau trong tròng mắt, vị thuốc này bổ dưỡng huyết mạch của Quyết âm; lại có thể sơ thông kết khí, đau mắt, loa lịch, đều thuộc chứng bệnh của Can, vì thế rất hiệu quả, uống lâu có thể tổn thương Vị khí. Nó dùng chung với Sâm, Truật thì có thể dùng lâu mà không có hại (Bản Thảo Đồ Giải).


. Hạ khô thảo có vị cay đắng, tính hơi lạnh,  các sách khi luận về công dụng của nó, đa số thường cho là tán kết, giải nhiệt, có thể trị tất cả các chứng loa lịch, anh, thấp tý,  ban đêm đau tròng mắt, làm như là vị này có được công năng với ý nghĩa lấy hàn mà làm mát được nhiệt, nếu trường hợp thuộc nội hỏa thì trị không thích hợp. Vị này tại sao gọi là ‘Khô?’, bởi lẽ mùa đông thì sinh trưởng mà mùa hạ thì lại khô đi, thân lá đều dùng làm thuốc (Bản Thảo Cầu Chân).


. Hạ khô thảo vào Quyết âm Can kinh, Can chủ cân mà tàng huyết, khai khiếu ở mắt. Chu Đan Khê cho rằng vị này có công dụng bổ dưỡng huyết mạch của Quyết âm. Vì  vậy, hễ chứng can hư nhiệt mắt, điều trị mà không thu được hiệu quả như loa lịch, tán kết, đau trong lòng mắt, thì không phải không có âm hư Can vượng gây ra. Y Thông Hạ Khô Thảo Tán’ kết hợp với Đương quy, Bạch thược, Nguyên sâm, Cam thảo, để trị đau tròng mắt do Can hư, nặng nhất là về đêm. ‘Tiêu Hạch Hoàn’ kết hợp với Mẫu lệ, Nguyên sâm, Bối mẫu, Liên kiều, dùng để trị loa lich hiệu qủa rất tốt. Tiết Kỷ cho rằng "Hạkhô thảo sinh huyết, là thánh dược trị loa lịch”, người đời nay thường dùng nó để trị các chứng đau đầu hoa mắt do Can hư phong dương nghịch lên, cũng thấy có hiệu quả



Thuốc nam Gia truyền Dân tộc Tày CHẤN MỘC VIÊN

Trụ sở chính: Khu 7, Ngọc Lâu, Hà Lộc, Thị xã Phú thọ, Tỉnh Phú Thọ

Ma Đình Tú: 098 679 69 90

Email: info@thuoc-nam.com


Chuyên đặc trị:

- Thoái hóa xương khớp, đau vai gáy, đau dây thần kinh, vôi gai đốt sống, bệnh gút, thoát vị đĩa đệm.

- Tiểu đường, huyết áp

- Xơ gan cổ trướng, viêm gan, gan nhiễm mỡ, máu nhiễm mỡ.

- Viêm xoang.

- Trĩ nội, trĩ ngoại.

- Yếu sinh lý, vô sinh.

- Sỏi thận, sỏi gan, sỏi mật, sỏi bang quang, tiết niệu...